Một trong những giải pháp quan trọng mà Sở xác định tập trung thực hiện đó là không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng chính sách nông nghiệp gắn với đảm bảo sinh kế cho người dân. Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức đoàn công tác khảo sát, làm việc tại các xã Phố Bảng, Đồng Văn và Lũng Cú, đồng thời phối hợp với UBND các xã tổ chức các buổi tọa đàm với sự tham gia của chuyên gia nông nghiệp, các doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân; khảo sát các mô hình nông, lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và trao đổi, nắm bắt kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại các tại các xã Vĩnh Tuy, Hùng An; khảo sát và bàn giải pháp phát triển vùng trồng dâu, nuôi tằm và thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến dâu tằm và thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tại các xã, phường: Sơn Thủy, Đông Thọ, Bình ca, Hồng Sơn, Sơn Dương, Tân Thanh, Trường Sinh, Bình Thuận. Ngoài ra, Sở đã thành lập 5 Tổ công tác để hỗ trợ, hướng dẫn các xã, phường tổ chức sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với xây dựng “Đề án phát triển nông nghiệp bền vững gắn với kinh tế nông nghiệp xanh, nông nghiệp số và mục tiêu xây dựng nông thôn, nông dân giàu có tỉnh Tuyên Quang đến năm 2030, định hướng đến năm 2050”. Định hướng, tham gia ý kiến cụ thể đối với phương án phát triển nông lâm nghiệp và thủy sản năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 của từng xã, phường phù hợp mục tiêu phát triển, định hướng theo quy hoạch tỉnh và khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương
.png)
Đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Giáo sư Nguyễn Lân Hùng - Chuyên gia nông nghiệp làm việc với chính quyền địa phương và nhân dân một số xã trên địa bàn tỉnh từ ngày 31/3/2026-01/4/2026
Kết quả trong quý I năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp tăng trưởng khá, nhất là triển khai các loại cây trồng vụ Đông - Xuân năm 2025-2026; năng suất sản lượng một số cây trồng chính đều tăng so với cùng kỳ năm 2024. Tốc độ tăng GRDP (lĩnh vực nông, lâm, thủy sản) đạt 4,48%. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây vụ Đông sơ bộ đạt 28.036 ha, đạt 99% KH2. Diện tích cam hiện có 4.028,7 ha; sản lượng cam V2 chín muộn thu hoạch ước đạt 215 tấn (giá trung bình tăng khoảng 25 -30% so với cùng kỳ năm 2025). Diện tích chè hiện có 27.821,1ha; sản lượng chè búp tươi thu hoạch ước đạt 14.089,2 tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích mía nguyên liệu 3.959,2 ha (đã thu hoạch niên vụ năm 2025 – 2026 khoảng 830 ha). Sản lượng thịt hơi một số vật nuôi chủ yếu (trâu, bò, lợn, dê, gia cầm) 04 tháng đầu năm ước đạt 83.746 tấn, tăng 4,3% so cùng kỳ năm 2025. Sản lượng thủy sản ước đạt 4.293 tấn, bằng 23,98% kế hoạch, tăng 9,2% so với cùng kỳ. Thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng đảm bảo duy trì độ che phủ rừng đạt 62,2 %; trồng rừng tập trung ước đạt 4.645,2/13.700 ha đạt 33,9% kế hoạch và đạt 93,7% so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng khai thác gỗ rừng trồng 412.856,94/1.260.000 m3 đạt 32,8% kế hoạch năm 2026 và đạt 85,3% so với cùng kỳ năm 2025; khai thác tre, nứa được 10.924,7/30.000 tấn đạt 36,4% kế hoạch năm 2026 và đạt 120,7% so với cùng kỳ năm 2025. Các đơn vị chuyên môn của Sở thường xuyên hướng dẫn các địa phương tiếp tục mở rộng diện tích cây trồng áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn; tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong sản xuất, buôn bán giống cây trồng, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; giám sát định kỳ đối với 20 vùng trồng xuất khẩu, 03 cơ sở đóng gói được cấp mã số và 104 vùng trồng nội tiêu. Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp của tỉnh không ngừng mở rộng quy mô các chương trình, dự án liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm (lạc, gấc, dưa chuột, ớt, ngô sinh khối, dâu tằm,...) tạo hướng đi ổn định, bền vững cho nông sản. Tập trung hỗ trợ duy trì, nâng hạng sao cho các sản phẩm OCOP đã được công nhận; thường xuyên rà soát, hướng dẫn lựa chọn các sản phẩm đặc trưng, đặc hữu, sản phẩm chủ lực của tỉnh để tham gia chương trình.
Trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, với mục đích nhằm tăng tính đồng bộ, hiệu quả sử dụng nguồn lực, tránh chồng chéo, trùng lặp về mục tiêu, nội dung, đối tượng và địa bàn thụ hưởng; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 257/2025/QH15 về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035 trên cơ sở tích hợp 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025. Đến nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phê duyệt Chương trình thực hiện giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 tại Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Bộ tiêu chí về nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 và quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình; các bộ, ngành trung ương đã và đang khẩn trương ban hành hướng dẫn thực hiện theo lĩnh vực phụ trách. Để khẩn trương thực hiện Chương trình tại địa phương; Sở Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động tham mưu đề xuất thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, như: Đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình trên địa bàn tỉnh; dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định về mức hỗ trợ 01 dự án, định mức hỗ trợ các đối tượng tham gia dự án phát triển sản xuất thuộc chương trình mục tiêu quốc gia; dự thảo Kế hoạch thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 và năm 2026; dự thảo các Bộ tiêu chí về nông thôn mới của tỉnh giai đoạn 2026-2030; rà soát đề xuất kế hoạch vốn thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 và năm 2026; …
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 được kỳ vọng sẽ góp phần trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch phát triển KTXH về tăng trưởng bền vững, giảm nghèo đa chiều, phát triển hạ tầng nông thôn, tạo tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng sống của người dân nhất là người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thông qua các nguồn lực trong triển khai Chương trình để đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ sinh kế cho người dân. Qua đó, góp phần quan trọng vào quá trình hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đã đề ra trong thời gian tới./.