Hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035: Đột phá nguồn lực và đổi mới thể chế phát triển phát triển văn hóa - xã hội toàn diện.

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất ngày 24/8/2026, Quốc hội khóa XVI đã chính thức thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16, phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Việc hợp nhất 04 Chương trình mục tiêu quốc gia trước đây thành một khung chính sách thống nhất đánh dấu bước chuyển chiến lược nhằm khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, tạo sức mạnh tổng hợp cho phát triển bền vững.

Chương trình được hình thành trên cơ sở hợp nhất 04 Chương trình mục tiêu quốc gia trọng điểm: Phát triển văn hóa; Hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; Xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển. Nguyên tắc cốt lõi của việc hợp nhất là bảo toàn nguyên vẹn mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng và quyền lợi của nhân dân. Sự thay đổi căn bản nằm ở tư duy quản lý: thu gọn đầu mối, cắt giảm khoảng 70 văn bản hướng dẫn rườm rà và chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra. Nghị quyết xác định cụ thể các chỉ tiêu đo lường hiệu quả trên cả 4 lĩnh vực cốt lõi:

Về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Phấn đấu đến năm 2030, thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng 2,5 - 3 lần so với năm 2020, thu nhập của người dân tộc thiểu số đạt 1/2 bình quân chung cả nước; tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1% - 1,5%/năm khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có khoảng 10% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; phấn đấu có 05 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Đến năm 2035, tiếp tục nâng thu nhập bình quân đầu người nông thôn thêm ít nhất 1,6 lần so với năm 2030 và giảm ít nhất 50% số xã, thôn khó khăn vùng dân tộc thiểu số; khoảng 85% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có khoảng 30% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; phấn đấu có ít nhất 10 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, trong đó có 05 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới hiện đại…

Về phát triển văn hóa: Phấn đấu đến năm 2030, 100% đơn vị hành chính cấp tỉnh có đủ 03 loại hình thiết chế văn hóa cấp tỉnh; các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đóng góp 7% GDP; tu bổ 95% di tích quốc gia đặc biệt; 100% đơn vị hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tin học hóa, chuyển đổi số, ứng dụng các thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Hướng tới mốc năm 2035, công nghiệp văn hóa đạt mức đóng góp 8% GDP, hoàn thành tu bổ 100% di tích quốc gia đặc biệt và hoàn thiện hệ thống Thư viện số quốc gia…

Về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo: Giai đoạn 2026 - 2030, hoàn thành kiên cố hóa 100% phòng học, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai; Đầu tư trọng điểm cho 18 trường cao đẳng, trong đó 06 trường thực hiện chức năng trung tâm quốc gia và 12 trường thực hiện chức năng trung tâm vùng đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao; Đầu tư các đại học trọng điểm với mục tiêu 01 trường thuộc nhóm 100 thế giới và 08 trường thuộc nhóm 200 châu Á. Đến năm 2035, nâng số đại học đạt top 200 châu Á lên 12 cơ sở và top 100 thế giới lên 02 cơ sở…

Về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển: Phấn đấu 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 15% (năm 2030) và dưới 13% (năm 2035). Tỷ số giới tính khi sinh đưa về mức cân bằng dưới 109 (năm 2030) và dưới 107 (năm 2035)…

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã thống nhất thông qua chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 trên cơ sở hợp nhất 04 Chương trình mục tiêu quốc gia (Nguồn ảnh: Internet)

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, tổng nguồn lực huy động cho giai đoạn 2026-2030 của Chương trình lên tới 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách địa phương đóng vai trò chủ lực với 395.392 tỷ đồng (chiếm khoảng 48,9%), ngân sách trung ương hỗ trợ 345.000 tỷ đồng (chiếm khoảng 42,7%), huy động nguồn tín dụng chính sách, nguồn vốn đối ứng của các cơ sở giáo dục và các nguồn huy động hợp pháp khác. Ngân sách trung ương sẽ tập trung ưu tiên hỗ trợ cho các địa phương nhận bổ sung cân đối lớn và các địa bàn chiến lược như vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Nghị quyết số 46/2026/QH16 mở ra hành lang pháp lý linh hoạt với nhiều điểm mới mang tính đột phá, trong đó Hội đồng nhân dân các cấp được trao quyền chủ động phân bổ, điều chỉnh nguồn vốn giữa các dự án thành phần mà không phải thông qua các quy trình xin - cho phức tạp. Các cơ chế đặc thù vượt trội được áp dụng như: cho phép dùng vốn đầu tư công xây dựng Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, giao chủ dự án tự mua sắm hàng hóa hoặc chuyển giao quyền sở hữu tài sản hỗ trợ sinh kế trực tiếp cho hộ nghèo.

Đặc biệt, Chương trình gắn liền hiệu quả giải ngân với sự giám sát trực tiếp của nhân dân thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Việc lấy ý kiến và công khai kết quả đánh giá sự hài lòng của người dân định kỳ hai lần một năm sẽ là thước đo thực tế nhất cho chất lượng triển khai tại địa phương. Có hiệu lực ngay từ ngày thông qua (24/8/2026), Nghị quyết số 46/2026/QH16 kỳ vọng sẽ mở ra chương mới trong việc thực thi các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm mọi nguồn lực đầu tư của nhà nước là thống nhất, toàn diện, nhanh chóng và mang lại hiệu quả thiết thực nhất./.

La Thị Duyên

Tin cùng chuyên mục