Phát huy giá trị chè Shan tuyết cổ thụ - Hướng đi chiến lược cho sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của tỉnh Tuyên Quang.

Tỉnh Tuyên Quang hiện có diện tích chè lớn nhất cả nước với hơn 27.500 ha, trong đó chè Shan tuyết chiếm gần 70% diện tích toàn tỉnh. Đặc biệt, trên 7.000 ha chè Shan tuyết cổ thụ phân bố ở độ cao từ 600 – 1.500m đang trở thành nguồn tài nguyên sinh thái, văn hóa và kinh tế đặc biệt quý giá, góp phần tạo nên thương hiệu nông nghiệp đặc trưng của địa phương. Những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi với lớp lông tuyết trắng phủ trên búp chè tạo nên hương vị đặc trưng: nước xanh, vị đậm sâu, hậu ngọt và giàu khoáng chất. Không chỉ mang giá trị kinh tế, chè Shan tuyết còn gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa của đồng bào vùng cao, trở thành một phần bản sắc cộng đồng của người Dao, Tày, H’Mông qua nhiều thế hệ. Nghề trồng, chế biến và thưởng trà đã hình thành nên không gian văn hóa trà đặc sắc, mở ra tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm gắn với vùng chè cổ thụ.

Những năm gần đây, cây chè được xác định là một trong những cây trồng chủ lực trong chiến lược phát triển nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao theo chuỗi giá trị của tỉnh. Nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ đã được triển khai như hỗ trợ giống, cải tạo chè già cỗi, phát triển chè hữu cơ, xây dựng nhà máy chế biến, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm. Tỉnh đã đẩy mạnh quy hoạch vùng chè theo hướng hữu cơ, VietGAP; xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất chè an toàn; phát triển chỉ dẫn địa lý cho chè Shan tuyết; đồng thời tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Đến nay, toàn tỉnh có hơn 5.000 ha chè được chứng nhận hữu cơ, gần 12.000 ha đạt tiêu chuẩn VietGAP, khoảng 17.000 ha được công nhận chỉ dẫn địa lý “Chè Shan tuyết Hà Giang” và 1.300 ha được công nhận chỉ dẫn địa lý “Chè Shan tuyết Na Hang”. Đặc biệt, 1.629 cây chè Shan tuyết cổ thụ đã được công nhận là “Cây Di sản Việt Nam”, cùng 100 cây chè đầu dòng được bình tuyển và bảo tồn phục vụ phát triển nguồn gen quý. Hiện toàn tỉnh có 734 cơ sở chế biến chè, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư công nghệ hiện đại nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Một số thương hiệu chè như chè Lũng Phìn, Nậm Ty, Cao Bồ, Tây Côn Lĩnh… đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế. Đến nay, tỉnh có 104 sản phẩm chè đạt OCOP, trong đó có 3 sản phẩm đạt OCOP 5 sao. Các dòng sản phẩm như chè xanh, hồng trà, bạch trà, phổ nhĩ… được tiêu thụ rộng rãi trong nước và xuất khẩu sang hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Pakistan, UAE và nhiều nước châu Âu.

Người dân thu hái chè Shan ở xã Cao Bồ

Mặc dù có nhiều tiềm năng và đạt được những kết quả tích cực, song việc phát triển chè Shan tuyết cổ thụ trên địa bàn tỉnh hiện nay vẫn chưa tương xứng với lợi thế hiện có, như: Diện tích chè hiện còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ; việc chăm sóc, thu hái ở nhiều nơi vẫn mang tính truyền thống; liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp còn thiếu chặt chẽ. Cùng với đó, công tác bảo tồn nguồn gen chè Shan tuyết cổ thụ cũng còn nhiều khó khăn. Nhiều cây chè có dấu hiệu già cỗi, suy giảm sinh trưởng do biến đổi khí hậu, sâu bệnh và khai thác chưa hợp lý; trong khi đó, việc nghiên cứu phục hồi, trẻ hóa cây chè di sản chưa được triển khai đồng bộ. Phần lớn sản phẩm vẫn dừng ở sơ chế hoặc nguyên liệu thô, thiếu các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao; mẫu mã, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều; năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp cận phân khúc cao cấp còn hạn chế. Bên cạnh đó, công tác xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và xúc tiến thương mại chưa đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường hiện đại. Tiềm năng du lịch sinh thái gắn với vùng chè cổ thụ và văn hóa trà cũng chưa được khai thác hiệu quả.

Từ những khó khăn, hạn chế trên, trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch vùng chè Shan tuyết phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng; ưu tiên bảo vệ cây chè đầu dòng, cây chè di sản và xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ quản lý nguồn gen. Cùng với đó là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý vùng chè. Việc tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chặt chẽ giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp cũng được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị chè Shan tuyết. Đồng thời, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, phát triển các dòng sản phẩm cao cấp. Bên cạnh đó, việc xây dựng thương hiệu “Chè Shan tuyết cổ thụ Tuyên Quang” gắn với chỉ dẫn địa lý, văn hóa trà và du lịch trải nghiệm cần được chú trọng. Các mô hình du lịch cộng đồng, trải nghiệm hái chè, chế biến và thưởng trà nếu được đầu tư bài bản sẽ góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng cao, đồng thời quảng bá hiệu quả hình ảnh chè Shan tuyết ra thị trường trong và ngoài nước.

Với tiềm năng sẵn có cùng những định hướng đúng đắn, chè Shan tuyết cổ thụ không chỉ là cây trồng chủ lực mà còn có thể trở thành biểu tượng nông nghiệp đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, bảo tồn văn hóa bản địa và nâng cao đời sống người dân. góp phần hoàn thành tiêu chí nông thôn mới của các  xã vùng khó khăn của tỉnh Tuyên Quang./.

La Thị Duyên - NTM Tuyên Quang

Tin cùng chuyên mục