Hiện trạng ngành giáo dục của tỉnh
Trong những năm qua, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh có bước phát triển quan trọng. Tỉnh đã hoàn thiện các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học, đồng thời đẩy mạnh phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong tỉnh. Mạng lưới trường, lớp tiếp tục được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả; công tác sắp xếp lại trường, điểm trường thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch năm 2022; tỉ lệ trường chuẩn quốc gia đạt chỉ tiêu đề ra. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiếp tục được bổ sung. Tỉ lệ huy động trẻ đi nhà trẻ cao hơn bình quân của cả nước; duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục - xóa mù chữ; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú tiếp tục được quan tâm, mở rộng quy mô.
Năm học 2022-2023, toàn tỉnh có 461 trường giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; trong đó: Mầm non 152 trường (04 trường ngoài công lập), Tiểu học 125 trường, Trung học cơ sở (THCS) 149 trường (có 33 trường liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở (TH&THCS)); Trung học phổ thông (THPT) 35 trường (có 08 trường liên cấp có cấp THPT). Tổng số lớp mầm non, phổ thông: 7.479 lớp; số trẻ, học sinh là 226.927 học sinh. Về giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp, toàn tỉnh có 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp (GDTX-HN) tỉnh và 06 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX) cấp huyện; năm học 2022-2023 có 56 lớp với 2.322 học viên; 11 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổng quy mô tuyển sinh được cấp phép 12.500 người/năm với trên 50 nghề được cấp phép đào tạo. Trường Đại học Tân Trào có 21 mã ngành đào tạo với 3.188 sinh viên (chính quy: 1.842 sinh viên, vừa làm vừa học 1.749 sinh viên.
Hiện nay, tổng số người làm việc trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập là 13.624 người và 38 hợp đồng lao động theo Nghị định số 111/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 của Chính phủ.
Những kết quả đạt được
Năm 2022, tỉnh Tuyên Quang đã đạt chuẩn phổ cập giáo giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và xoá mù chữ mức độ 2 trở lên; tỉ lệ người biết chữ trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi đạt 97,8%. Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số được chăm sóc, giáo dục trong trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú đạt 16,2%. Tỉ lệ huy động trẻ mẫu giáo đạt 99,9%, riêng trẻ 5 tuổi đạt 100%; 100% trẻ được học 2 buổi/ngày; tỉ lệ trẻ ăn bán trú đạt 96,1%; tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 4,0%, thể thấp còi 4,8%; duy trì vững chắc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Chất lượng giáo dục đại trà có bước phát triển vượt bậc. Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT 03 năm gần đây đều đạt trên 98%. Năm 2022, điểm trung bình kỳ thi tốt nghiệp THPT của tỉnh xếp thứ 18/63 tỉnh, thành phố.
Chú trọng đầu tư xây dựng trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia
đạt chuẩn quốc gia đạt 55,7% (257/461 trường; trong đó: Cấp mầm non 73/152 trường, đạt tỉ lệ 48%; tiểu học 84/125 trường, đạt 67,2%; THCS 91/149 trường, đạt 61,1%; THPT 9/35 trường, đạt 25,7%. Tỉ lệ phòng học kiên cố đạt 65%.
Thực hiện mục tiêu phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách, đề án, kế hoạch về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đến nay, tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo như sau: Cấp mầm non 96%, tiểu học 61%, THCS 87%; THPT 100%; trình độ trên chuẩn: mầm non 29%, tiểu học 0,2%, THCS 2%, THPT 14%.
Tiếp tục đầu tư, phát triển Trường Đại học Tân Trào thành trung tâm đào tạo nhân lực trong khu vực và trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ của tỉnh. Các hình thức và ngành nghề đào tạo của Trường Đại học Tân Trào đa dạng và tăng qua các năm. Hiện nay, Trường đang đào tạo hệ chính quy, liên thông và vừa làm vừa học; một số ngành nghề tiêu biểu gồm: Dược học, Điều dưỡng, Công nghệ thông tin, Kế toán, Sư phạm Ngữ văn.
Quan tâm đầu tư cho giáo dục và đào tạo gắn với việc thực hiện các tiêu chí thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Đến nay, đối với xây dựng xã nông thôn mới đã có 65/122 xã đạt Tiêu chí số 5 (Trường học) và 122/122 xã đạt Tiêu chí số 14 (chỉ tiêu 14.1 và 14.2); đối với xây dựng xã nông thôn mới nâng cao đã có 13/122 xã đạt Tiêu chí số 5 (Trường học), 71/122 xã đạt tiêu chí số 13.1 (Phổ cập giáo dục) và 82/122 xã đạt tiêu chí số 13.2 (Học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học THPT, học nghề).

Trường Tiểu học Minh Khương – một trong những công trình đầu tư xây dựng để xã Minh Khương về đích nông thôn mới năm 2022
Kế hoạch thực hiện trong thời gian tới
Nhằm thực hiện đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; trong thời gian tới, ngành giáo dục xác định tiếp tục triển khai thực hiện một số kế hoạch, nội dung trọng tâm, như: Tập trung nguồn lực xây dựng trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia; rà soát, sắp xếp có hiệu quả trường, điểm trường, lớp học; chuyển đổi ít nhất 12 trường phổ thông thành trường phổ thông dân tộc bán trú; phát triển quy mô cấp THPT đối với các trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp THCS-THPT; thực hiện hiệu quả chủ trương huy động trẻ đi nhà trẻ và kế hoạch phát triển GDMN năm 2023; đẩy mạnh phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập; … Bên cạnh đó, thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn; nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh sau THCS, THPT; nâng cao chất lượng dạy và học của các trường chuyên nghiệp, các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong ngành giáo dục; …