![]() Ảnh: Hoạt động của một Tổ giao dịch lưu động NHCSXH (Nguồn Internet) |
Tổng kết, đánh giá sau 10 năm thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của tỉnh cho thấy sự chủ động vào cuộc tích cực của hệ thống các ngân hàng trên điạ bàn tỉnh. Các Ngân hàng, nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội đã thường xuyên chủ động phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn tỉnh (Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Tỉnh đoàn thanh niên, Hội cựu Chiến binh) và ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn để triển khai thực hiện công tác đầu tư tín dụng nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới có hiệu quả. Đến nay, toàn tỉnh có 155.427 khách hàng có quan hệ vay vốn tín dụng (tăng 13.925 khách hàng so với năm 2008), với dư nợ cho vay đạt 8.690,7 tỷ đồng, tăng 7.219,7 tỷ đồng (gấp 6,1 lần) so với 31/12/2008, tốc độ tăng trưởng bình quân 22%/ năm.
![]() Ảnh: Cán bộ Agribank huyện Sơn Dương làm các thủ tục vay vốn, gửi tiết kiệm cho người dân tại xã Kháng Nhật (Nguồn Internet) |
Một trong những kết quả nổi bật trong thực hiện lồng ghép cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới gắn với thực hiện các cơ chế, chính sách của tỉnh là việc triển khai chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất theo Nghị quyết số 10/2014/NQ-HĐND ngày 22/7/2014 về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại (đã thực hiện giải ngân 144.796,0 triệu đồng/415 trang trại được vay vốn, trong đó: Hỗ trợ vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất: 143.799,0 triệu đồng/414 trang trại; Hỗ trợ sản xuất theo VietGAP: 897,0 triệu đồng/09 trang trại; Đăng ký nhãn hiệu sản phẩm: 100,0 triệu đồng/01 trang trại) và theo Nghị quyết số 12/2014/NQ-HĐND ngày 22/7/2014 về chính sách hỗ trợ sản xuất hàng hóa đối với một số cây trồng, vật nuôi (đã thực hiện giải ngân 177.782,3 triệu đồng/3.508 hộ được vay vốn, trong đó: Trâu sinh sản: 141.133,0 triệu đồng/6.733 con/2.849 hộ; Trâu đực giống: 18.985,0 triệu đồng/383 con/383 hộ; Cây mía: 81,0 triệu đồng/6,18 ha/08 hộ; Cây cam chăm sóc: 4.297,3 triệu đồng/192,62 ha/137 hộ và trồng mới: 50,0 triệu đồng/2,0 ha/01 hộ; Cây chè (máy sao chè): 50,0 triệu đồng/01 máy/01 hộ; - Nuôi cá lồng: 11.118,0 triệu đồng/288 lồng/109 hộ; nuôi theo VietGAP: 1.630,0 triệu đồng/14 mô hình/14 hộ; đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, tham gia hội chợ xúc tiến thương mại: 438,0 triệu đồng).
Bên cạnh đó, việc triển khai chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với công tác bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan môi trường nông thôn xanh-sạch-đẹp cũng đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc thay đổi nhận thức của người nông dân. Đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện giải ngân 123 tỷ đồng để hỗ trợ người dân trong việc thực hiện Quyết định số 30/2012/QĐ-UBND ngày 28/12/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy định cho hội viên nông dân trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang vay vốn được hỗ trợ kinh phí và lãi suất tiền vay để phát triển chăn nuôi (trâu, bò, lợn) có kết hợp xây dựng hầm bể Biogas bằng vật liệu nhựa Composite và Quyết định số 303/QĐ-UBND ngày 24/7/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc hỗ trợ hội viên nông dân của 07 xã điểm xây dựng nông thôn mới của tỉnh Tuyên Quang được vay và hỗ trợ lãi suất tiền vay để xây dựng nhà tiêu và hệ thống chuồng trại chăn nuôi (ngân sách tỉnh hỗ trợ 17 tỷ đồng để thực hiện xây dựng 5.912 hầm biogas theo và 7.338 công trình vệ sinh).
Với những kết quả thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời gian qua tiếp tục khẳng định sự vào cuộc chủ động của các cấp, các ngành, đặc biệt là hệ thống các Ngân hàng trên địa bàn tỉnh trong việc tiếp cận, mở rộng quy mô đầu tư tín dụng để đa dạng hóa nguồn lực phục vụ phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn. Đồng thời tác động trực tiếp trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo thế mạnh từng vùng, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển hàng hóa tập trung, các mô hình liên kết trong sản xuất kinh doanh với tiêu thụ sản phẩm, khai thác có hiệu quả lợi thế, tiềm năng phát triển kinh tế của từng vùng, thúc đẩy phát triển mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã và trang trại./.
.jpg)
.jpg)