Đây là chương trình KHCN tổng hợp, liên ngành, thể hiện ở 05 mục tiêu và 06 nhóm nội dung, giao cho Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp cùng với Bộ KHCN, Bộ Tài chính và các Bộ ngành TW, UBND các tỉnh, thành phố.
![]() Chương trình KHCN phục vụ xây dựng NTM đã giới thiệu chuyển giao vào sản xuất 121 quy trình và giải pháp công nghệ, với 1.735 công trình kỹ thuật, máy móc, thiết bị. Ảnh: NTV. |
Trong giai đoạn I, Chương trình đã nhận được hơn 800 đề xuất nhiệm vụ; đã tuyển chọn, triển khai được 69 nhiệm vụ, thực hiện toàn bộ 06 nhóm nội dung được giao, thuộc nhiều chuyên ngành khoa học xã hội và KHCN, nghiên cứu các lĩnh vực từ lý luận đến thực tiễn, từ thể chế, chính sách đến các giải pháp khoa học kỹ thuật cụ thể, xây dựng mô hình trình diễn, đào tạo nguồn nhân lực cho NTM.
Chương trình đã được ngân sách nhà nước cấp 221 tỷ đồng, huy động nguồn ngoài nhà nước được 165 tỷ đồng, chiếm 43% tổng kinh phí thực hiện Chương trình GĐ I.
Đã có 74 sản phẩm là các kiến nghị giải pháp cơ chế chính sách của 42 đề tài, dự án được tiếp nhận để sử dụng. Từ đó, đã tạo ra 246 sản phẩm mới, 26 công nghệ mới. Chương trình đã xây dựng được 185 mô hình các loại, trong đó có 87 mô hình được các địa phương tiếp nhận để nhân rộng. Giới thiệu chuyển giao vào sản xuất 121 quy trình và giải pháp công nghệ, với 1.735 công trình kỹ thuật, máy móc, thiết bị.
Trong khuôn khổ chương trình, 26 cuốn sổ tay, sách hướng dẫn đã được phát hành cho nông dân. Chương trình cũng tham gia đào tạo 09 Nghiên cứu sinh tiến sĩ, 39 Thạc sĩ và nhiều sinh viên đại học.
Chương trình đã thu hút được sự tham gia đông đảo của doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân, huy động được các nguồn lực ngoài nhà nước. Có 21 doanh nghiệp chủ trì, tham gia chính các đề tài, dự án; nhiều HTX, nông dân của 100 xã trên địa bàn 40 tỉnh, thành phố cả nước đã trực tiếp tham gia trong các mô hình.
Nhờ các mô hình chuyển giao có hiệu quả kinh tế cao, kết quả của Chương trình có tính lan tỏa rộng, có tác động xã hội tích cực, góp phần thúc đẩy xây dựng NTM. Hầu hết các mô hình dự án của Chương trình đều tạo ra hiệu quả kinh tế cao. Có 82 loại nông sản cây, con được sản xuất với quy trình công nghệ mới, có năng suất, chất lượng cao hơn. Nhiều giải pháp KHCN có tác động tăng năng suất nông nghiệp. Trong tổng năng suất tăng thêm của các loại nông sản trồng trọt chủ lực, các TBKT về thủy lợi đóng góp 35 - 40%, cùng với đó là đóng góp của khâu giống chiếm 25 - 30%; của phân bón và các biện pháp kỹ thuật khác 25 - 30%.
Chương trình đã góp phần đổi mới, hoàn thiện các thể chế phát triển nông nghiệp, quản lý xã hội nông thôn, một mặt thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa, chất lượng cao, tái cơ cấu ngành, các hình thức liên kết, hợp tác kiểu mới, mặt khác góp phần nâng cao năng lực hệ thống chính trị cơ sở, bộ máy chính quyền địa phương theo hướng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, chính thức và phi chính thức.
Chương trình còn góp phần giải quyết một số vấn đề bức xúc về môi trường và an sinh xã hội thông qua các giải pháp KHCN, các hình thức tự quản của người dân nông thôn. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu về khoa học xã hội của Chương trình đã góp phần đề xuất các giải pháp chính sách có giá trị thực tiễn cao để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống; phát huy vai trò của các giá trị văn hóa Việt Nam đối với phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM.
Giai đoạn 2018 - 2020, định hướng hoạt động của chương trình là tập trung vào những vấn đề lớn bằng các công trình nghiên cứu và triển khai các mô hình ứng dụng; bổ sung các văn bản pháp quy để kịp thời triển khai thực hiện Chương trình; cần có những đề tài, mô hình cho Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư.
GS.TS NGUYỄN TUẤN ANH
Phó Chủ tịch thường trực Tổng hội NN&PTNT. Thành viên Ban chỉ đạo, Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng NTM – Trưởng ban.
