Thông tư hướng dẫn thực hiện Hợp phần hai của Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2030.

Ngày 04/6/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành Thông tư số 02/2026/TT-BDTTG hướng dẫn một số nội dung Hợp phần thứ hai của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I từ năm 2026 đến năm 2030 thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, gồm: Nội dung 05, nội dung 06 thuộc Nội dung thành phần 01; nội dung 03 thuộc Nội dung thành phần 02; nội dung 02, nội dung 03 thuộc Nội dung thành phần 03; nội dung 01, nội dung 02 thuộc Nội dung thành phần 04; nội dung 01, nội dung 02 và nội dung 03 thuộc Nội dung thành phần 05

Về đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đặc thù vùng đồng bào DTTS&MN, Thông tư quy định cụ thể quy việc hỗ trợ thiết lập, duy trì các điểm hỗ trợ đồng bào DTTS ứng dụng công nghệ thông tin tại xã, thôn để phục vụ phát triển kinh tê - xã hội và bảo đảm an ninh trật tự. Theo đó, các nội dung  thực hiện sẽ là hỗ trợ thiết lập và duy trì các điểm hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp nhằm phục vụ chuyển đổi số, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh trật tự. Công tác tập huấn kỹ năng số, nâng cao nhận thức về an toàn thông tin mạng và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm trên môi trường trực tuyến cũng được chú trọng triển khai.

Đồng thời, Thông tư hướng dẫn tiếp tục giải quyết các nhu cầu thiết yếu của người dân về đất ở, nhà ở và ổn định dân cư. Hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo và mới thoát nghèo thiếu đất ở hoặc nhà ở sẽ được hỗ trợ theo quy định để từng bước ổn định cuộc sống, yên tâm phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, các dự án sắp xếp, bố trí ổn định dân cư cho đồng bào còn du canh, du cư, người di cư tự do hoặc sinh sống tại khu vực có nguy cơ thiên tai tiếp tục được triển khai nhằm bảo đảm an toàn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Các loại công trình hạ tầng khác trên địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN, như: Công trình chống sạt lở ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực dân cư, trường học; công trình nhà hỏa táng; bố trí quỹ đất làm các khu nghĩa địa, nghĩa trang tập trung cũng được tập trung để đầu tư.

Hình minh họa Thông tư

Nhằm tạo động lực phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân, Thông tư hướng dẫn cụ thể đối tượng được hỗ trợ gồm người dân, hộ gia đình, nhóm hộ có nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh; trong đó ưu tiên phụ nữ dân tộc thiểu số, thanh niên, sinh viên, người lao động hồi hương, người yếu thế và các nhóm dễ bị tổn thương. Các hoạt động hỗ trợ bao gồm: Tập huấn kiến thức khởi nghiệp, tổ chức diễn đàn kết nối đầu tư, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm và xây dựng các mô hình khởi nghiệp gắn với lợi thế địa phương. Qua đó tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nguồn lực, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Việc phát triển nguồn nhân lực vùng đồng DTTS&MN thông qua các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và người lao động cũng được quy định cụ thể. Nhiều nội dung mới được triển khai như: xây dựng học liệu số, ngân hàng bài giảng điện tử phục vụ giảng dạy tiếng dân tộc thiểu số; bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng dân tộc; đào tạo, cấp chứng chỉ tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức, viên chức công tác tại vùng dân tộc và miền núi. Cùng với đó, chương trình tiếp tục tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức công tác dân tộc cho đội ngũ cán bộ các cấp nhằm nâng cao năng lực quản lý và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trong tình hình mới.

Đối với việc dành nguồn lực hỗ trợ các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù: Các chính sách hỗ trợ tập trung vào phát triển sản xuất, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống như tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội, nghề thủ công và các loại hình nghệ thuật dân gian. Đồng thời, chương trình triển khai nhiều giải pháp nâng cao chất lượng dân số, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, hỗ trợ dinh dưỡng, sàng lọc bệnh bẩm sinh, giảm suy dinh dưỡng trẻ em và cải thiện chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Thông tư cũng hướng dẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động tuyên truyền nhằm giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, góp phần nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực tại các địa phương.

Theo Thông tư hướng dẫn về nội dung công tác truyền thông, tuyên truyền và ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số: Các hoạt động biểu dương, tôn vinh người có uy tín, già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo và các điển hình tiên tiến sẽ được tăng cường nhằm lan tỏa những mô hình hay, cách làm hiệu quả trong cộng đồng. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai bằng nhiều hình thức đa dạng, kết hợp giữa phương thức truyền thống và công nghệ số, khuyến khích xây dựng nội dung bằng tiếng dân tộc thiểu số để người dân dễ tiếp cận. Thông tư cũng chú trọng nâng cao khả năng tiếp cận trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Thông tư cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường phân cấp cho địa phương, nhất là cấp xã trong tổ chức thực hiện; ưu tiên các địa bàn đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Việc triển khai các chính sách phải gắn với kết quả đầu ra cụ thể, bảo đảm công khai, minh bạch, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và phù hợp với điều kiện thực tiễn, phong tục tập quán của từng dân tộc, từng địa bàn.

Thông tư số 02/2026/TT-BDTTG là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để các địa phương triển khai hiệu quả các chính sách dân tộc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo tồn văn hóa truyền thống và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS&MN trong thực hiện Chương trình theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường./.

La Thị Duyên - NTM Tuyên Quang

Tin cùng chuyên mục