.jpg)
Một tuyến giao thông thôn Minh Khai, xã Lực Hành, huyện Yên Sơn
Đặc biệt, Thành phố Tuyên Quang đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 320/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, cấp xã có 54/122 xã đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; 08 xã đang thẩm định trình UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn xã nông thôn mới; 08 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 01 xã đã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu Huyện Hàm Yên và huyện Sơn Dương đang trong lộ trình xây dựng đạt chuẩn huyện nông thôn mới đến năm 2025.
Qua thực hiện chương trình xây dựng NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu, Tuyên Quang cũng có nhiều thuận lợi như đó là được sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền; bên cạnh việc lồng ghép nguồn vốn từ thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 và Chương trình Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; tỉnh Tuyên Quang đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để tập trung nguồn vốn góp phần thực hiện hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới: Nghị quyết số 55/NQ-HĐND ngày 20/11/2020 của HĐND tỉnh thông qua Đề án bê tông hóa đường giao thông nông thôn và xây dựng cầu trên đường giao thông nông thôn, giai đoạn 2021 – 2025; Nghị quyết số 09/2020/NQ-HĐND ngày 15/12/2020 của HĐND tỉnh Quy định mức hỗ trợ kiên cố hóa kênh mương trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2021 - 2025; Nghị quyết số 03/2021/NQ-HĐND ngày 16/7/2021 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản hàng hóa; sản phẩm OCOP và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021-2025; Nghị quyết số 88/NQ-HĐND ngày 21/12/2021 của HĐND tỉnh thông qua Đề án xây dựng nhà văn hóa thôn, tổ dân phố gắn với sân thể thao và khuôn viên trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2021-2025; Nghị quyết số 10/2023/NQ-HĐND ngày 01/7/2023 của HĐND tỉnh quy định mức hỗ trợ dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị và mức hỗ trợ dự án sản xuất cộng đồng thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2021 - 2025.
Sau khi các Bộ, ngành Trung ương ban hành các văn bản triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo các Sở, ngành liên quan tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện theo quy định. Hiện nay, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện chương trình, thành lập Ban Chỉ đạo và Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2025 và đã phân công, phân nhiệm rõ ràng. Do đó, công tác phối hợp giữa các đơn vị được đảm bảo theo chức năng nhiệm vụ theo quy định.
Bên cạnh thuận lợi, Tuyên Quang cũng gặp cũng không ít khó khăn bởi các văn bản chỉ đạo, điều hành thực hiện chương trình từ Bộ, ngành đến tỉnh đôi khi còn chậm; một số vướng mắc, khó khăn từ địa phương trong quá trình thực hiện kiến nghị bộ, ngành Trung ương đôi khi chậm xem xét, hướng dẫn; một số hướng dẫn triển khai chương trình từ các Bộ, ngành còn chậm ban hành, do đó, phần nào ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.
Ngân sách đầu tư kết cấu hạ tầng ở các xã khó khăn, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; chưa bố trí đủ nguồn vốn ngân sách của tỉnh để thực hiện tại các xã mục tiêu năm 2022, 2023; đời sống người dân, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn cao... Một số địa phương ưu tiên chú trọng đầu tư hạ tầng, chưa quan tâm đúng mức tới phát triển sản xuất, kinh doanh để nâng cao thu nhập bền vững cho người dân; Trong quá trình xây dựng, triển khai thực hiện chương trình, khi lấy ý kiến các sở, ngành theo chức năng và nhiệm vụ, một số sở, ngành còn chưa kịp thời chủ động trong việc tham mưu thực hiện chương trình; thời gian phản hồi về đơn vị chủ trì còn chậm, nội dung phản hồi cung cấp thông tin chưa rõ ràng cụ thể, còn mang tính chung chung; nhân sự thay đổi liên tục dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện chương trình,...
Để thực hiện hiệu quả xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, Tuyên Quang đã đưa ra nhiều giải pháp quan trọng bao gồm:
Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, nhất là vai trò của người đứng đầu trong xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là ở cấp cơ sở, cấp trực tiếp tổ chức thực hiện. Các sở ngành, địa phương cần nhận thức xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị, kết quả thực hiện xây dựng nông thôn là căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể và mỗi cá nhân. Cụ thể ngày 16/11/2023 Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã có văn bản số 5709/UBND-KT về việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đối với các xã, huyện đã đạt chuẩn NTM, NTM nâng cao và NTM kiểu mẫu; phấn đấu hoàn thành mục tiêu của Chương trình. Trong đó yêu cấu đối với các xã đã về đích NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu, và huyện NTM trước năm 2020 phải khẩn trương rà soát, chỉ đạo thực hiện để đáp ứng đầy đủ mức độ đạt chuẩn theo yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM, xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu, huyện NTM (Quy định tại Quyết định số 318/QĐ-TTg, Quyết định số 319/QĐ-TTg và Quyết định số 320/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ) đồng thời khẩn trương triển khai các nội dung phù hợp với điều kiện thực tế, đặc thù của địa phương để thực hiện duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, đảm bảo tăng trưởng và phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và nhân dân về nội dung xây dựng nông thôn mới, nâng cao hơn nữa nhận thức vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị huyện, xã, nhất là vai trò người đứng đầu trong xây dựng nông thôn mới. Triển khai sâu rộng và thiết thực Phong trào thi đua “Chung sức xây dựng nông thôn mới”; Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”… Xây dựng hệ thống và tăng cường các kênh truyền thông tương tác thông qua việc ứng dụng các công nghệ mới về thông tin truyền thông như mạng xã hội, ứng dụng giải trí trên thiết bị thông minh, công nghệ thực tế ảo,... nhằm nâng cao sự tương tác và tham gia của người dân; tạo các kênh truyền thông hai chiều, vừa đảm bảo mục tiêu tuyên truyền của cơ quan quản lý nhà nước vừa tiếp nhận thông tin, phản ánh của người dân về quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới.
Song song đó, nghiên cứu ban hành hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ và linh hoạt ở các cấp và phù hợp với từng nhóm địa phương. Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật, cơ chế chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới theo hướng tiếp tục sáp nhập các chương trình, dự án có cùng nội dung đầu tư, nội dung hỗ trợ trên địa bàn nông thôn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nhằm thống nhất cơ chế, chính sách hỗ trợ các địa phương triển khai hiệu quả các nội dung của chương trình, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư các nguồn lực, đảm bảo không chồng chéo, lãng phí nguồn lực.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cấp ứng dụng trong các hoạt động quản lý, điều hành các cấp (huyện, xã), đặc biệt là quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn và các lĩnh vực kinh tế, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, môi trường, an ninh trật tự,... Đẩy mạnh quá trình số hóa, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về nông nghiệp, nông thôn, nông dân để chia sẻ và cung cấp dữ liệu mở về kết quả xây dựng nông thôn mới. Rà soát các nội dung, định mức hỗ trợ của Nhà nước về chuyển đổi số để đề xuất áp dụng trong xây dựng nông thôn mới thông minh; chính sách khuyến khích các tổ chức và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ số về các lĩnh vực kinh tế, thương mại, y tế, giáo dục, văn hóa, du lịch,… để đầu tư vào khu vực nông thôn.
Tạo điều kiện, môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút doanh nghiệp, tập đoàn viễn thông, công nghệ thông tin đầu tư về cơ sở hạ tầng số và kết nối mạng internet đến cấp xã, thôn; hạ tầng công nghệ gắn với phát triển dịch vụ trên các lĩnh vực.
Chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển đô thị. Ưu tiên vốn đầu tư cho các hạ tầng kết nối, đặc biệt là hạ tầng liên thông nông thôn - đô thị; hạ tầng về xử lý môi trường; hạ tầng kỹ thuật, công nghệ thông tin… Tăng cường phát triển nông thôn theo hướng công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, đưa nông nghiệp trở thành không gian sinh thái, nghỉ dưỡng…. Thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông thôn, bao gồm cả đầu tư theo hình thức đối tác công tư nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội phát triển kết cấu hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng thời với nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Ưu tiên nguồn lực cho các huyện, thành phố thực hiện tốt, xây dựng lộ trình, kế hoạch cụ thể để xác định, lựa chọn các địa phương có tiềm năng hoàn thành sớm công tác đạt chuẩn các chỉ tiêu, tiêu chí theo quy định để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy nhanh hỗ trợ, thúc đẩy tiến độ đạt chuẩn, góp phần chung vào nhiệm vụ tỉnh Tuyên Quang sớm được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới vào năm 2030.
Ngoài nguồn vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp từ Chương trình, cần tăng cường huy động, lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình dự án khác thực hiện trên địa bàn theo nguyên tắc ưu tiên huy động, khai thác tối đa nguồn lực trực tiếp tại địa phương, các nguồn vốn hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, nguồn huy động của cộng đồng, cá nhân để tập trung ưu tiên hỗ trợ các địa phương theo kế hoạch đạt chuẩn./.